TOÀN CẢNH NƯỚC MỸ

TOÀN CẢNH NƯỚC MỸ - du học Mỹ
TOÀN CẢNH NƯỚC MỸ – du học Mỹ

Nước Mỹ quá rộng lớn và đa đạng như thế, cho nên khó mà giải thích bằng lời tóm tắt ngắn gọn. Ðể hiểu được một vài nét khác biệt của đất nước này, chúng ta hãy chia nó ra thành sáu khu vực. Mỗi khu vực đều có đặc thù riêng so với những khu vực khác về mặt kinh tế, địa lý và trong chừng mực nào đó về văn hóa. du học Mỹ

Hãy nhìn vào vùng Ðông Bắc của bản đồ, ở đó New York là thành phố rộng lớn nhất. Quần đảo Mahattan là trung tâm của thành phố New York, đã được mua lại từ những thổ dân da đỏ bằng những đồ trang sức rẻ tiền trị giá là 24 dollars. Giờ đây nó là trung tâm tài chính của nước Mỹ.

New York từng là cảng tiếp nhận hầu hết dân nhập cư khi cập bến vào đây, ở đây họ sẽ trông thấy tượng Nữ thần Tự do sừng sững giơ cao ngọn đuốc tự do. Có ba cảng biển chính khác nhau ở vùng Ðông Bắc. Cũng như New York, tất cả đều là những trung tâm tài chính, thương mại và công nghiệp lớn.

Về phía Bắc, Cảng Boston là nơi từ đây những người dân, những tàu săn cá voi và những con tàu Yankee Clipper nhổ neo đến các vùng biển Trung Quốc. Ðó là một trong những nơi định cư đầu tiên, một trong những thành phố chính và cũng là trung tâm của các bang New England. Philadelphia nơi bản Tuyên ngôn Ðộc lập và Hiến pháp được soạn thảo, phê chuẩn và cũng là quê hương của Benjamin Franklin, một chính khách và một nhà khoa học. Baltimore là một trung tâm thương mại, công nghiệp và cũng là một cảng biển quan trọng.

Từ Boston đến Washington D.C. là 719 km. Dọc theo dải bờ biển hẹp này, hơn 20% dân số nước Mỹ sống trên một vùng chưa bằng 2% diện tích cả nước. Washington D. C, ở cuối phía Nam của một loạt các thành phố, là nơi ít phát triển về công nghiệp và không có các tòa nhà chọc trời. Ðiện Capitol, Nhà Trắng, Ðài tưởng niệm Washington , đài tưởng niệm Lincoln và Jefferson là những điểm nổi bật chính. Hãy nhìn, vùng đất dọc theo sông Hudson từ thành phố New York đến một miền quê xinh đẹp với những ngọn đồi nhấp nhô và những trang trại uốn quanh ở phía đầu của Hồ Erie đến Detroit, cách New York 1000 km về phía Tây Bắc. Detroit là nơi ra đời của công nghệ sản xuất xe hơi hàng loạt và ngày nay là cơ quan đầu não của các hãng xe hơi của cả nước.

Tiếp đến là Chicago, thành phố lớn thứ hai ở Mỹ, trải dài 47 km quanh bờ hồ Michigan về phía Tây Nam, đó là trung tâm về đường sắt, trung tâm tàu thuyền. Hồ lớn nổi tiếng về chuồng nhốt gia súc và các loại nhà cao chứa thóc lúa. Không xa lắm là những thành phố chế tạo thép đồ sộ. Chicago phục vụ cho miền Trung Tây nhưng nó lại thuộc về khu vực Ðông Bắc, vì nó là một phần trong mạng lưới các trung tâm tàu thuyền và công nghiệp ở phía Bấc. Ðông Bắc là vùng công nghiệp chính của nước Mỹ.

Vùng thảo nguyên dốc thoai thoải của Vùng Lòng chảo trung tâm đã có thời là biên giới cho những ai muốn vượt qua dãy núi Appalachian. Ở Illinois, những người tiên phong này đã tiến đến cuối những cánh đồng phía Ðông rộng lớn. Trước mặt họ là những cánh đồng phì nhiêu, đất đai màu mỡ và những mùa hè nóng nực cộng với lượng mưa đầy đủ, là giấc mơ của người nông dân. Ở đó là các bang Ohio, lndiana, Illinois, lowa và Nebraska được biết đến với tên gọi là Vành Ðai Ngô (The Corn Belt). Xa hơn về phía Bắc, ở Wisconsin và Minnesota, khí hậu trở nên mát mẻ và ầm ướt hơn. Ở đó. nông trại sản xuất sữa và bơ phát triển thịnh vượng.

Một nông dân ở Vành Ðai Ngô sẽ bảo với bạn rằng anh ta có thể nghe được tiếng cây ngô lớn dậy. Có thể bạn sẽ cười, nhưng thật ra điều đó là đúng. Vào một buổi tối giữa mùa hè nóng nực, có tiếng xào xạc nào đó ở cánh đồng ngô. Ðó là tiếng cây ngô đang lớn lên, chúng phát triển vào khoảng 5 cm mỗi đêm. Vì thế không lạ gì cứ ba gia đình nông dân ở Mỹ thì đã có hai gia đình trồng ngô. Hơn 3/4 số ngô được sản xuất để làm thức ăn cho trâu bò, gia cầm và lợn, đồng thời cũng được dùng làm lương thực.

Ðiển hình một nông trại ở Vùng Lòng chảo trung tâm, một nông dân sở hữu 87 hecta và chỉ trồng trọt một vụ mùa chính. Ông ta cũng có một đàn gia súc lớn. Ông ta tự mình làm các công việc như trồng trọt, canh tác, bón phân, xịt thuốc trừ sâu rầy và thu hoạch mùa màng. Những tay thợ được thuê mướn duy nhất của ông ta là máy móc.

Springfield, ở trung tâm của bang lllinois là nơi mà Abraham Lincoln đã đến khi còn là một chàng trai trẻ để học luật, bắt đầu bước chân vào chính trị và sau còn được đắc cử trở thành Tổng thống thứ l6. Bây giờ hãy nhìn về phía sau xuyên qua dãy núi Applachian ở phía Nam từ Washington D. C đến vùng đông Nam ở bang Virginia, Richmond là thủ đô của phe liên bang miền Nam trong suốt thời kỳ nội chiến và Monticello gần Charlottsville, là quê hương của Thomas Jefferson,tác giả chính của bản Tuyên ngôn độc lập và là Tổng thống thứ ba của nước Mỹ.

Từ Virginia đến Texas nơi cây bông vải đã một thời ngự trị. Nhưng, những đồn điền trồng bông lớn lại phụ thuộc vào sức lao động của các nô lệ và việc trồng bông đã làm cạn kiệt màu mỡ đất. Nông nghiệp đơn vụ cộng với sự tàn phá kinh khủng của cuộc nội chiến đã để lại miền Ðông Nam một vùng đất nghèo nàn nhất trên đất nước. Giờ đây nó đang thay đổi nhanh chóng. Những dòng sông mênh mông từng gây lũ lụt cho các khu vực rộng lớn đang được chế ngự bằng đê điều và đập.Việc sản xuất, các vụ mùa mới, cơ khí hóa gia tăng, trồng rừng – tất cả đang làm thay đổi miền Ðông Nam.

Tách ra từ phần còn lại của miền Ðông Nam, Florida vươn dài ra trông như ngón chân của một gã khổng lồ để khảo sát Ðại Tây Dương. Ở đây rau quả cận nhiệt đới mọc quanh năm và trên các bờ biển là Trung tâm không gian John F. Kennedy và bờ biển Miami, một nơi nghỉ mát nổi tiếng. Về phía Tây, trên vùng châu thổ rộng lớn của con sông Mississippi dài 4000 km. là New Orleans, nơi mà những bao lơn bằng sắt rèn gợi cho ta nhớ đến những dân định cư người Pháp thuở ban đầu. Vào cuối thế kỷ 19, các nhạc sĩ da đen tại thị trấn này đã cho ra đời Nhạc Jazz, và đến ngày nay New Orleans là con sông quan trọng và cảng biển quan trọng.

Ðại Bình nguyên (Great Meadow) là nơi mưa dã cạn hết, khoảng nửa chừng băng qua Texas và Oklahoma. Từ đây một đường tưởng tượng chạy từ phía Bắc xuống Nam hầu như xuyên qua giữa nước Mỹ. Nó được gọi là tuyến lượng mưa 50 cm. Nông dân gọi là tuyến thảm họa vì những ai cố gắng làm nghề nông ở phía Tây, nơi mà lượng mưa dưới 50 cm, phải chịu nhiều đau khổ vì những tàn phá của hạn hán.

Ðại Bình nguyên là một vùng đất khắc nghiệt. Cái nóng vào mùa hè như thiêu như đốt, mùa Ðông lạnh đến đóng băng. Gió thổi mạnh điên cuồng chỉ có một vài cánh rừng hay ngọn đồi mới có thể ngăn nó lại, từ Montana ở biên giới Canada đến bằng Texas biên giới Mexico. Nước rất quý. Sự khan hiếm nước đã xua đuổi những người định cư đi đến các đồng bằng khác, đến nơi mà họ có thể đến được Chỉ có những người da đỏ ở Bắc Mỹ mới biết làm thế nào để tồn tại ở đây. Họ bắt ngựa hoang, đi xuống nơi họ đã trốn thoát những nhà thám hiểm Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 16, săn trâu để làm thức ăn, quần áo và dụng cụ.

Trước khi những thảo nguyên phía Ðông, có người đến định cư và những thung lũng ở bờ biển Thái Bình Dương có đầy người, những nông dân đã đến với đồng bằng. Trước họ là những người chăn gia súc, những người này đã để dành những đồng cỏ của trâu rừng trước kia cho gia súc họ.Những chàng chăn bò đã dồn đàn gia súc sừng dài hoang dã lại rồi lùa chúng về phía Bấc và phía Ðông đem bán. Vào nửa sau của những năm 1800, những người da đỏ Bắc Mỹ, người chăn gia súc, chăn bò và nông dân đã dành nhau để tranh giành đất. Ðó là những tháng ngày của miền Tây hoang sơ xa xưa. Cuối cùng, những người nông dân đã giành được thắng lợi. Nhưng vào những năm 1930 đã có một trận hạn hán. Những cơn gió dữ tợn đã thổi bay lớp đất bề mặt màu mỡ bàng ngang qua lục địa ở Boston và Washington D. C cách đó 3000 km, không khí ngập đầy bụi của đồng bằng. Người ta phải rời bỏ trang trại của mình.” Ðại Bình nguyên”đã trở thành “Cái tô bụi” (The Dust Bowl).

Ngày nay, cả nông dân và người chăn gia súc đã trở lại. Những trang trại rất rộng lớn từ 200 hecta trở lên, nhưng chỉ cần một người làm việc. Ông ta có thể mướn một nhóm người cùng một vài cái máy gặt đập khổng lồ vào mùa hè và chỉ thế thôi. Ông ta là một nông dân làm việc có khoa học, người trồng trọt nhiều loại vụ mùa khác nhau để bảo vệ và làm màu mỡ thêm cho đất. Người quản lý trại chan nuôi súc vật sẽ chăn dắt gia súc của mình một cách cẩn thận để gìn giữ đất đai.

Qua đoạn đường dài, lái xe ngang qua một vài thị trấn ở đồng bằng, hầu hết chúng đều nhỏ, bạn cô thể nhìn thấy những con đường chính rộng lớn kéo dài hết tầm mắt trên vùng đất bằng phẳng.Chỉ riêng Denver, ở mép phía Tây của đổng bằng, là một thành phố rộng lớn. Một trung tâm sản xuất và đóng gói thịt, nó nằm ở chân đồi của dãy núi Rocky, cao 1000 m trên mực nước biển.

Giống như đồng bằng lớn, vùng núi và sa mạc, ban đầu không thu hút người đến định cư Ðó là một khu vực đáng sợ, băng qua nó càng nhanh càng tốt để đến được biển Thái Bình Dương. Sau đó sức cám dỗ của vàng, bạc, thiếc, đồng ở vũng núi đã kéo mọi người trở lại. Những cơ hội làm giàu nhanh chóng đã diễn ra và những mỏ vàng, bạc đã cạn kiệt. Một vài mỏ vẫn còn đang hoạt động đến nay. Tất cả những gì còn lại là những thị trấn ma, những cụm nhà gỗ đã bạc màu vì nắng gió trong các thung lũng đá hẹp và sâu. Rặng núi Rocky như xương sống dài của lục dịa – trên 4200 m chiều cao và 560 m chiều rộng ở Utah và Colorado. Bởi vì vẻ đẹp về thiên nhiên đa dạng và bất thường của nó, phần lớn vùng núi và sa mạc này được bảo tồn không bị làm hỏng ởcác công viên quốc gia – như là Yellowstone ở Wyoming và Death Valley ở California. Chỉ có một vài thị trấn cách xa đó.

Vùng đất sa mạc giữa dãy Rocky và dãy núi Sierra Nevada ban đầu dường như là vô dụng. Nhiệt độ lên đến 480 C (1200 F) trong bóng râm.Trời chỉ mưa hai lần trong năm, vào giữa mùa hè và giữa mùa đông. Sau đó, mưa rơi xuống như trút nước, nước chảy qua các rãnh lớn qua đất liền. Và vùng sa mạc đã làm rộng trong một thời gian ngắn.

Sau cùng, một vài người dũng cảm đã cố gắng tưới tiêu và canh tác. Thành công nhất là Brigham Young và nhóm người Mormons của ông ta. Họ đã định cư ở sa mạc bên cạnh một biển muôí rộng lớn nội địa, và vào năm 1847, Salt Lake City được thành lập. Từ đây đến LosAngeles phải mất 1206 km ngang qua hầu hết sa mạc và núi.

Vào nặm 1769, một thầy tu dòng Tên người Tây Ban Nha, cha Junipero Serra đã thiết lập hội truyền giáo đầu tiên ở phía Nam California. Cuối cùng, 21 hội truyền giáo được dân trải ra, cách nhau một ngày đi bộ trên suốt cả những đường đến San Francisco. Tại đó ảnh hưởng của Tây Ban Nha bị ngừng lại.

Los Angeleslà đô thị lớn nhất của thế giới : 117.000 ha. Sự tập hợp bao la của các cộng đồng liên kết có lẽ đã không tồn tại được nếu không có những cống dẫn nước không lồ nằm nổi trên mặt đất mang nước từ cách xa đó 400 đến 640 km.

Cây họ cam quýt mọc lên ở Thung lũng San Fernando và gần đó là Hollywood – nơi sản xuất phim chiếu bóng và nhiều chương trình ti vi. Từ Bakersreld, gần Los Angeles, trải dài về phía Bắc là vừng đất màu mỡ được gọi là Coast Valle. Những người đầu tiên đến bờ biển Thái Bình Dương, từ San Francisco đến Seattle là người Anh, người Nga và những nhà thám hiểm khác. Một số đã lập nên những nơi buôn bán lông thú vào năm 1803, Tổng thống Thomas Jefferson đã cử Meriwether Lewis và William Clark đi ngược dòng sông Missouri và đổ xuống dòng sông Columbia để thám hiểm và vẽ bản đồ khu vực chưa được biết đến này. Vào năm 1843, những người đinh cư đã theo họ đi dọc theo Oregon ở những thung lũng ven biển phía Bắc, họ đã tìm ra đất đai giàu khoáng sản, nước dồi dào và khí hậu ôn hòa. Những thung lũng thoải mái, dễ chịu này rất lý tưởng cho cây ăn quả, nơi sản xuất bơ sữa và ngay cả lúa mì. Ở Califomia, thung lũng trung tâm lớn cũng có nước nhưng những dòng sông dữ dội cuồng nộ vẫn không thể khống chế được. Giờ đây một loạt các đập nước, kênh đào, và các ống dẫn tưới tiêu đã làm nó trở thành một trong khu vực trang trại giàu có nhất ở nước Mỹ.

Tất cả ba bang của biển Thái Bình Dương – Washington, Califomia và Oregon đều hướng về Ðông phương. Các loại hàng hóa gồm cá, gỗ và trái cây được chở bằng tàu thủy từ những cảng ở San Francisco, Portland và Seattle tới Châu Á. Có một cộng đồng người Hoa lớn ở San Francisco. Từ những ngày đổ xô tìm vàng, đó đã là một thành phố quốc tế nơi mà nhiều dân tộc đã giữ gìn ngôn ngữ và tập quán của họ . Những xe hơi chạỵ bằng cáp kỳ lạ kêu loảng xoảng lên và xuống những ngọn đồi dốc và các tàu thủy nhô neo từ Thái Bình Dương dưới chiếu dài chung của cầu Golden Gate ở Vịnh San Francisco, một trong những cảng giữa đất liền đẹp nhất của thế giới.

Seattlelà cửa ngõ để vào Alaska, tiểu bang thứ 49. Bạn phải lái xe xuyên qua đất nước Canada hoặc đi thuyền hay máy bay để đến được Alaska. Alaska có một địa hình rất xù xì lởm chởm, những rặng núi lớn và ít đường xá. Bởi vì nó nằm ở cực Bắc nên mùa đông của nó rất dài và mùa hè rất ngắn. Nghề đánh cá, khai thác mỏ, đốn gỗ và việc tìm ra mỏ dầu gần đây đã làm cho Alaska trở nên giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Bang thứ 50 là Hawaii một quần đảo ngập đầy ánh nắng với hơn 3200 km nhìn ra Thái Bình Dương (từ bờ biển Califonia. Những đồn điền dứa và bãi biển Waikiki là thắng cảnh thế giới. Dân sống ở đây gọi phần còn lại của nước Mỹ là đất liền.

Alaskavà Hawaii cùng với sáu khu vực của nước Mỹ đều tương phản với nhau rõ rệt. Ðịa lý và khí hậu, đủ các hạng người định cư ở các khu vực đó đã quyết định số mệnh của họ một cách khác nhau. Nhưng tất cả đều gắn bó cùng nhau với một lối sống Mỹ

Địa Lý – du học Mỹ

Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là một nước cộng hòa gồm 50 bang. Có 48 bang có chung biên giới, trải rộng từ vĩ độ 250 Bắc đến 500 Bắc, từ kinh độ 1200 Tây đến 67o Tây (kéo dài 4500 km và 4 múi giờ, tính từ bờ biền Ðại Tây Dương đến bờ biển Thái Bình Dương); hai bang khác là Hawaii và Alaska, Hawaii nằm ở miền nhiệt đới thuộc Thái Bình Dương (1600 Tây, cách nước Mỹ lục địa 3200 km), Alaska nằm gần vùng Bắc cực. Diện tích của cả 50 bang là 3.615.122 dặm vuông (lớn gấp 31 lần nước Ý) Mỹ là nước có diện tích lớn thứ tư  trên thế giới.

Nước Mỹ có đặc điểm tự nhiên khí hậu rất đa dạng, có cả rừng mưa ẩm và sa mạc khô cằn, đến các ngọn núi trọc. Núi Mc. Kinley ở bang Alaska cao 20,320 feet (6,194m) là ngọn núi cao nhất nước Mỹ, ngược lại một phần của “Thung lũng Tử thần” (Death Valley) ở Califomia thấp hơn mực nước biển 282 feet (89m).

Bờ biển Ðông nước Mỹ trải dài, mềm mại bao quanh miền đất thấp còn gọi là miền đồng bằng duyên hải. Miền này rất bằng phẳng, trải dài từ Maine đến Texas (như không nơi nào ở Florida cao quá 350 feet so với mực nước biển), ngoài ra miền này lại thường có đầm lầy. Nói chung, đất canh tác cằn cỗi, ngoại trừ phần đồng bằng phía Nam lấn sâu vào đất liền là màu mỡ (vùng Vành đai Bông vải thuộc Old South và vùng trồng cam quýt thuộc miền trung Flonda).

Ở bờ Tây đồng bằng duyên hải Ðại Tây Dương, rặng núi Appalachian thấp, nối nhau trải dài từ phía Bắc của vùng Tây Nam Maine đến bang Alabama. Rặng núi này có trữ lượng khổng lồ than và sắt loại dễ khai thác (đây cũng là lý do của việc tập trung ngành công nghiệp nặng dọc theo những vùng đất thấp hơn tại Ðại Hồ(Great Lakes). Nằm hướng Ðông của các đỉnh núi chính là vùng đồi Piedmont, một vùng đất nông nghiệp có năng suất cao nhất, chỉ kém Midwest.

Trung tâm nước Mỹ là một đồng bằng rộng mênh mông, phía Bắc là Superior Upland và Black Hills, phía Nam là Cao nguyên Ozark, trải dài theo hướng Nam miền trung Canada đến Mexico và theo hướng Tây rặng núi Ap- palachian đến Cordillera. Vùng đồng bằng nằm sâu trong đất liền này trông như một cái đĩa cao dần lên, có vùng đất cao hơn bao quanh; vùng này được chia thành 2 phần chính : phần phía Ðông ẩm ướt là Bình nguyên Trung tâm (Cenlral Plains) và phần phía Tây là Ðai Bình nguyên (Greal Plains), cả hai phần này đất đai đều màu mỡ.

Nằm về phía Tây Ðai Bình nguyên (Great Plains) là Cordillera, chiếm một phần ba diện tích nước Mỹ. Ðây là một vùng cực kỳ đa dạng, có thể chia nhỏ thành nhiều vùng khác nhau. Phía đông giáp ranh dãy núi (Rocky Moutains) cao trùng điệp trải dài từ vùng núi Alaska đến Mexico, nổi bật trên đồng bằng Ðại Bình nguyên. Dãy núi lởm chởm này chứa nhiều kim loại quan trọng như: chì, uranium và vàng.

Ðặc điểm của bờ Tây Cordillera là những dãy núi cao dọc theo bờ biển, xen kẽ những thung lũng rộng, màu mỡ. Các rặng núi quan trọng nhất là Sierra và Cascades ở miền Ðông và Coastal Ranges dọc bờ biển phía Tây, giữa các rặng núi này là vùng cao nguyên rộng lớn có các hẻm núi và vách đá đứng nhô ra biển kết hợp các vịnh nhỏ và các dãy núi đứng trơ trọi. Vùng duyên hải Thái Bình Dương không có đồng bằng, có nhiều vịnh dồi dào tài nguyên như dầu và khí thiên nhiên.

Hawaii là một quần thể gồm 20 đảo, trong đó chỉ 7 đảo có người ở. Những đảo núi được tại thành do hoạt động núi lửa, đến nay vẫn còn nhiều núi lửa đang hoạt động.

Nước Mỹ có rất nhiều sông dài, phía Tây có nhiều sông ngòi, dài nhất là sông Missouri (3,942 km)- một phụ lưu của sông Missisippi (3,760 km); hệ thống Missisippi-Misouri-Red Rock chạy dài đến 6,176 km trước khi đổ vào vịnh Mexico gần New Orleans. Hai phụ lưu khác của Missisippi; là sông Ohio và Tennessee dài hơn 1,250 km. Ởphía Tây, sông Rio Grande làm thành một phần biên giới Mỹ – Mexico chảy dài 3,016 km và chỉ có hệ thống sông Colorado (2,320 km), Columbia (2,240 km) và San Joaquim-Sacramẹnto chảy đến Thái Bình Dương.

Khí Hậu – du học Mỹ

Ta có thể thực sự tìm thấy mọi loại khí hậu tại một nơi nào đó trên đất Mỹ – từ khí hậu Bắc ở bang Alaska cho đến khí hậu cận nhiệt đới ở bang Florida. ở bất kỳ vĩ độ nào khí hậu cũng thường không ôn hòa, bởi vì vùng lục địa Bắc Mỹ quá rộng lớn nên có sai biệt lớn về nhiệt độ và về lượng mưa giữa các vùng, đặc biệt là vùng trung tâm ở bang Dakota, nhiệt độ có thể nóng đến 49oC và lạnh đến âm 60oC.

Phần lớn nước Mỹ có khí hậu lục địa ẩm thấp với mùa hè nóng, mùa đông lạnh. Do không có vật chắn tự nhiên nên không khí lạnh, khô từ Canada tràn về phía Nam và không khí ấm, ẩm từ vịnh Mexico lan lên phía Bắc, đồng thời làm tăng thêm vẻ đẹp của thời tiết ở Ðại Bình nguyên và Trung Tây. Ở vùng này mùa hè rất nóng và lượng mưa giảm dần về hướng Tây do ảnh hưởng của các rặng núi West Pacific và Siena Nevada. Phần Tây Nam Ðại Bình nguyên là vùng nóng nhất và khô cằn nhất của nước Mỹ, mưa phần lớn là mưa rào mùa hè, lượng mưa trung bình 250mm mỗi năm. Bờ biển Thái Bình Dương hầu như không có mưa vào mùa hè, mặc dầu thường có sương và mưa phùn, nhưng khí hậu thường vẫn ấm và khô đặc biệt là ở bang Califonia. Phía Ðông nước Mỹ có lượng mưa vừa phải, rải đều quanh năm. Mùa hè có xu hướng cực kỳ ẩm ướt đặc biệt là dọc theo bờ biển bang Texas và bang Florida.

Dân Số – du học Mỹ

Với dân số 245.000.000 nguời, Mỹ là nước đông dân thứ tư trên thế giới. Khoảng 75% dân số sống ở thành thị, có 170 thành phố có hơn 100.000 dân, trong đó 24 thành phố có hơn 500.000 dân. Phần lớn các trung tâm thành thị nằm dọc theo các bờ biển Ðại Tây Dương và Thái Binh Dương, Vịnh Mexico và vùng Ðại Hồ (the Great Lakes). Vùng đông dân nhất là Ðông Bắc, diện tích tương đối nhỏ, chiếm một phần tư dân số của cả nước

Tôn Giáo – du học Mỹ

Cho đến năm 1860, chiếm đại đa số dân số là người da trắng theo đạo Tin lành gốc Anglo Saxon. Từ năm 1860 đến 1920, có khoảng 30 triệu người từ miền Trung và miền Ðông Nam Châu Âu nhập cư vào Mỹ. Họ phần lớn là người gốc Ý, Nga, Ba Lan và Hunggari, đã nhanh chóng hình thành các khu đồng nhất có bản sắc văn hóa riêng (ví dụ “Tiểu Ý” v.v…) và trở thành tầng lớp có đặc quyền kinh tế thứ hai sau người da trắng theo đạo Tin lành gốc Anglo – Saxon. Khoảng 12% dân số là người da đen, xếp hạng chót về kinh tế và giáo dục, với tỷ lệ người thất nghiệp cao hơn nhiều so vai người da trắng, hậu quả này phần lớn là do việc phân biệt chủng tộc. Nhóm dân tộc phát triển nhanh nhất là người Hispanics (1) (khoảng 7% người châu Mỹ), dù phần lớn người này được sinh ra tại nước Mỹ họ vẫn sử dụng tiếng Tây Ban Nha tạinhà cũng giồng người da đen, thông thường họ có trình độ giáo dục và mức sống thấp hơn phần dân số còn lại. Cũng có khoảng 2 triệu người Mỹ gốc Á Ðông – số này thường thành đạt (phần lớn từ các nước Nhật,Trung Quốc, Philippin, Việt Nam) tập trung chủ yếu ở bang Califomia. Có 1,5 triệu người Mỹ bản xứ sống ởnhững vùng riêng biệt ở các bang phía Tây Nam, họ thường rất nghèo nàn và ít hoặc không hòa nhập vào xã hội Mỹ.

Thể Chế Chính Trị – du học Mỹ

Hiệp chủng quốc (The United States) là khối liên hiệp của nhiều bang Hoa Kỳ (50 bang) lập nên do Hiến pháp năm 1789. Thủ đô Hoa Kỳ là Washington D.C (viết tắt District of’ Columbia – quận thủ phủ Columbia) không phải là một bang hay là một phần của bang nào mà là một khu vực đặc biệt dành riêng cho chính phủ quốc gia. Mỗi bang có chính phủ riêng, thủ phủ riêng và trong mỗi bang lại có nhiều cơ quan chính quyền địa phương nhỏ hơn nữa như : quận, hạt, tỉnh, thị trấn (thành phố) và xã.

Mỗi bộ phận chính trị nhỏ này đều được tự trị theo những khu vực đã được phân định rõ rệt. Hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc chỉ định rõ những công việc giao phó cho chính phủ liên bang. Mọi quyền hành khác đều dành cho các bang và dân chúng, chính phủ liên bang không được xen vào công việc thuộc những thẩm quyền riêng này. Theo nguyên tắc hiến pháp của từng bang thì các bộ phận chính trị trong mỗi bang đều có quyền độc lập.

Quốc hội Hoa Kỳ – du học Mỹ

Ngành lập pháp là Quốc hội Hoa Kỳ gồm có hai viện là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.

Thượng nghị viện viện: gồm có 102 nghị sĩ, tức là hai nghị sĩ cho mỗi bang. Các vị này đều do dân bầu lên trong một nhiệm kỳ là 4 năm. Một thượng nghị sĩ phải trên 30 tuổi tính đến ngày tuyển cử và phải là công dân Hoa Kỳ được 9 năm.

Hạ nghị viện : có 435 nghị sĩ, mỗi nhiệm kỳ là 2 năm: số nghị viên tuyển lựa trong mỗi bang được ấn định theo dân số của bang. Một Hạ nghị sĩ (dân biểu) phải ít nhất 25 tuổi khi được tuyển cử và phải là công dân Mỹ được 7 năm.

Hai viện có quyền ngang nhau trong công việc lập pháp. Viện nào cũng có thể đưa ra sáng kiến lập pháp, ngoại trừ luật tăng thuế lợi tức thì phải do Hạ nghi viện đưa ra. Tuy nhiên, chỉ có Thượng nghị viện mới có thể phê chuẩn hay bác bỏ những hiệp ước với các quốc gia khác do Tổng thống đề nghị, hay bác bỏ các cuộc bổ nhiệm của Tổng thống như bổ nhiệm Tối cao pháp viện, các tướng lãnh, các thành viên trong nội các (các Bộ trưởng) các đại sứ và các giám đốc các cơ quan chính quyền.

Trước khi những dự án luật (Proposed legislation) thành pháp luật, dự án luật đó phải được cả hai nghị viện chấp thuận và được Tổng thống ký. Nếu Tổng thống bác bỏ thì ông có thể dùng quyền phủ quyết, nhưng nếu luật đó lại một lần nữa được cả hai nghị viện thông qua với 2/3 số thăm thì dự luật đó trở thành luật pháp mà không cần chữ ký của Tổng thống.

Tổng thống không có quyền kiểm soát Quốc hội, dẫu rằng đảng của ông chiếm đa số trong cả hai nghị viện. Người có quyền lãnh đạo chính trị lớn nhất trong Hạ nghị viện là chủ tịch Hạ nghị viện và lãnh tụ khối đa sốHai người đó có quyền hơn là phe đối lập trong thượng nghị viện.

Chức Tổng thống và Chính phủ liên bang Hoa Kỳ:

Chức Tổng thống Mỹ là chức vụ có nhiều quyền lực nhất trên thế giới. Tuy vậy, quyền lực của tổng thống là một sức mạnh của dân tộc chứ không phải là uy quyền của một cá nhân. Những quyền lực của ông phải được Quốc hội chấp thuận mới có thể thi hành được, chứ không phải là những quyền độc đoán. Ngay cả đến quyền phủ quyết của ông cũng có thể bị bãi bỏ nếu 2/3 quốc hội chống lại. Tuy nhiên, Quốc hội không thể lật đổ Tổng thống, trừ khi có những lỗi rất nghiêm trọng. Tổng thống là người đứng đầu ngành hành pháp. Cả hai vị Tổng thống và phó Tổng thống (luôn luôn là những đảng viên của cùng một chính đảng), được bầu lên trong nhiệm kỳ là 4 năm. Các ông phải thi hành những chính sách do Quốc hội đưa ra, dù rằng chính sách đó trái với ý chí của Tổng thống. Tổng thống phải là một công dân sinh tại bản xứ, ít nhất là 35 tuổi, phải ở đất Mỹ liên tục 14 năm. Nhiệm vụ của ông là duy trì hiến pháp thi hành luật pháp do Quốc hội ban bố, bổ nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủ, chính thức giao dịch với ngoại quốc và làm Tổng tư lệnh quân đội (mặc dù vậy chỉ có Quốc hội chứ không phải Tổng thống tuyên chiến). Ðể phụ tá Tổng thống, Quốc hội đã đặt ra nhiều Bộ, đứng đầu những Bộ đó thường là các Bộ trưởng. Các Bộ lập thành hội đồng nội các. Các Bộ trưởng này do Tổng thống bổ nhiệm và có thể bị Tổng thống bãi nhiệm bất cứ lúc nào.

Chính phủ liên bang đảm nhiệm những công việc liên quan đến toàn thể quốc gia, như chính sách đối ngoại, quốc phòng, ấn hành tiền tệ, công việc bưu chính, thương mại với ngoại quốc và trong các bang, điều hành quyền công dân và công việc nhập tịch.

Chính quyền liên bang được chia làm 3 ngành:

Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp, mỗi ngành có trách nhiệm quyền hạn riêng và điều hành công bằng đến mức không ngành nào có thể chiếm ảnh hưởng hay vượt quyền chính phủ.

Các chính quyền bang cũng tổ chức cùng khuôn mẫu như chính phủ liên bang: một người hành pháp tức Thống đốc, hai viện của ngành lập pháp và một ngành tư pháp.

Các chính đảng và việc bầu cử – du học Mỹ

  1. a) Có hai chính đảng trong nền chính trị Hoa Kỳ:

Ðảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Xét bề ngoài chỉ thấy khác nhau đôi chút giữa hai đảng. Có hai khuynh hướng tự do và bảo thủ trong mỗi đảng. Phần lớn các thái độ chính trị theo truyền thống thì thấy có khác biệt rõ rệt, đảng Cộng hòa thường bênh vực chủ trương thuế khóa cao đôí với các hàng nhập cảng và không muốn dính líu tới công việc ngoại bang, trong khi Ðảng dân chủ chủ trương ủng hộ chính sách thương mại và mậu dịch tự do.

  1. b) Bầu cử ở Hoa Kỳ:

Quốc hội, các ngành lập pháp của bang, các thống đốc của bang, các cơ quan lập pháp của thành phố và các viên chức đều bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Về bầu cử Tổng thống, các công dân – bầu cho các đại cử tri trong cử tri đoàn, rồi cử tri đoàn này nhóm đại hội và bầu Tổng thống. Mỗi bang bầu một số đại cử tri ngang số Thượng và Hạ nghị sĩ của Quốc hội. Nhưng các Thượng hay Hạ nghĩ sĩ nào đang tại chức thì không được bầu làm đại cử tri. Kế đến, các đại cử tri thuộc mỗi chính đảng họp đại hội toàn quốc. Mỗi phe chỉ định ứng cử viên của mình. Cuối cùng, sau khi các ứng cử viên Tổng thống đã đi khắp đất nước trong nhiều tuần lễ để vận động giành số cử tri, cuộc tuyển cử diễn ra vào thứ ba tuần đầu tháng 11. Nhưng chỉ có các đại cử tri bỏ phiếu mà thôi. Người được nhiều phiếu nhất sẽ trở thành Tổng thống.

Mỗi công dân Hoa Kỳ, nếu không mất quyền công dân, đều có thể đi bầu bằng phiếu kín trong các cuộc bầu cử quốc gia, bang hay địa phương. Khi đã kiểm phiếu rồi, ứng cử viên có đa số phiếu thì được tuyên bố là người thắng củ và đồng thời nhận chức. Người ta thường nói rằng Hoa Kỳ là nước đầu tiên áp dụng lối phổ thông đầu phiếu, nước đầu tiên thi hành quyền tự do báo chí và phân tách giáo hội ra khỏi chính phủ.

Hiến pháp – du học Mỹ

Hiến Pháp Mỹ xây dựng trên chủ thuyết phân quyền giữa hành pháp, luật pháp và tư pháp. Các cơ quan chính phủ tương ứng Tổng thống, Quốc hội và Tòa án được trao cho những quyền lực có giới hạn và rõ rệt. Mỗi ngành có thẩm quyền nhất định để kiểm tra các ngành khác dựa trên hàng loạt các phương tiện kiểm tra, điều chỉnh để bảo đảm các ngành không có sự lạm quyền. Quyền lực chính phủ còn bị hạn chế hơn nữa bởi hệ thống chính quyền kép, theo đó chính quyền liên bang chỉ được trao quyền và trách nhiệm để đối phó với giải quyết các vấn đề cả cả nước (ngoại giao, thương mại, kiểm soát quân đội và hải quân,…). Trách nhiệm và nghĩa vụ còn lại của chính phủ được giao cho chính quyền mỗi bang.

Điều V Hiến pháp cho phép những sửa đổi trong Hiến pháp (khi được thông qua bởi hai phần ba đa số của cả hai viện Quốc hội và được phê chuẩn của ba phần tư cơ quan lập pháp của các bang). Hiến pháp được mười ba bang phê chuẩn năm 1791 đã có mười tu chính án được gọi chung là Tuyên ngôn Dân quyền (tự do tín ngưỡng, ngôn luận và báo chí. v.v…), để bảo vệ công dân trước sự chuyên chế nếu có của chính quyền liên bang. Cho đến nay, hiến pháp đã có hai mươi sáu tu chính án.

Chức vụ tổng thống

Tổng thống (bất kỳ công dân nào được sinh ra tại Mỹ, ít nhất 34 tuổi) được bầu ra cho một nhiệm kỳ bốn năm và chỉ có thể tái cử một nhịệm kỳ nữa (tu chính án 22 – được thông qua bốn nhiệm kỳ liên tiếp của Tổng thống Franklin D Roosevelt). Tổng thống vốn được dự tính chỉ hơn một ít so với người đứng đầu một bang, cũng như Tổng tư lệnh Quân lực, nhưng do tham gia ngày càng tăng ở chính quyền liên bang trong đời sống kinh tế của quốc gia và vai trò nổi bật trên thương trường quốc tế, trong đó thường cần sự bí mật và sự nhanh chóng làm tăng vai trò quan trọng của chức vụ tổng thống đối với Quốc hội .

Ngày nay, Tổng thống đề nghị một chương trình lập pháp đầy đủ cho Quốc hội, mặc dầu Tổng thống, nội các và các thành viên không phải và cũng không thể là nghị sĩ Quốc hội. Ðiều này có nghĩa là chính các nghị sĩ Quốc hội là người đệ trình các dự luật cho Hạ viện và Thượng viện. Hậu quả là tổng thống hoàn toàn không có quyền lực khi gặp phải một Quốc hội bất hợp tác. Vì vậy khó đảm bảo rằng các luật đã được thông qua sẽ được bộ máy hành chính liên bang thực thi có hiệu quả. Người ta nói rằng quyền lực thật sự duy nhất của Tổng thống là quyền thuyết phục.

Vai trò của Phó Tổng thống không được xác định rõ trong Hiến pháp. Hiến pháp chỉ cho Phó Tổng thống quyền chủ trì cuộc tranh luận ở Thượng viện và chỉ được biếu quyết trong trường hợp có ràng buộc. Tuy nhiên, Phó Tổng thống sẽ nắm quyền Tổng thống trong trường hợp Tổng thống chết, từ nhiệm hoặc lâm bệnh.

Ðến nay đã có tám trường hợp như vậy. Ðể cố gắng lôi kéo những người có khả năng vào chức vụ không quan trọng chủ yếu mang tính nghi thức này, gần đây Phó Tổng thống được trao thêm một số nhiệm vụ quan trọng công việc ngoại giao.

Quốc hội – du học Mỹ

Ngành Lập pháp của chính quyền quốc gia gồm hai viện – Thượng viện và Hạ viện, mỗi viện có vai trò, quyền lực và thủ tục bầu cử khác nhau.

Hạ viện – du học Mỹ

Hạ viện là một cơ quan năng động của chính quyền liên bang. Các bang được đại diện trên cơ sở dân số và được chia thành các khu vực bầu cử có quy mô gần bằng nhau (khoảng 520.000 người). Có 435 Hạ nghị sĩ, cứ hai năm bầu một lần. Tất cả các bang phải chọn theo luật hệ thống, một khu vực bầu một người theo lối bỏ phiếu đa số đơn giản. Nếu khuyết Hạ nghị sĩ do chết, từ nhiệm v.v…, thì bổ sung bằng cuộc bầu cử phụ.

Chủ tịch của Hạ viện, được viện bầu lên và có trách nhiệm quan trọng, khiến ông có ảnh hưởng đáng kể đối với Tổng thống. Hơn nữa, nếu Tổng thống và Phó Tổng thống chết trước khi chấm dứt nhiệm kỳ, thì ông chủ tịch trở thành Tổng thống.

Thượng viện – du học Mỹ

Thượng viện là một đối trọng bảo thủ, đối với Hạ viện có tính bình dân hơn. Từ năm 1913 (Ðiểm sửa đổi lần thứ 17), mỗi bang có hai Thượng nghị sĩ, được bầu trực tiếp theo cách do cơ quan lập pháp mỗi bang quyết định. Sáu năm bầu Thượng nghị sĩ một lần, nhưng bầu cử xen kẽ nghĩa là một phần ba Thượng nghị sĩ đuợc bầu hai năm một lần. Nếu khuyết Thượng nghị sĩ do chết hoặc từ nhiệm, thì trong khi chờ đến cuộc bầu cử Quốc hội, Thống đốc bang sẽ chỉ định người thay thế. Hiện nay có 100 Thượng nghị sĩ. Thượng viện có một đặc quyền là tranh luận không bị hạn chế để bảo vệ quyền lợi của thiểu sồ, nhưng điều này đã làm cho một nhóm nhỏ Thượng nghị sĩ có thể ngăn cản việc thông qua một dự luật (bằng cách nói dông dài).

Mặc dầu có thể làm ra các điều luật nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất của Quốc hội là xem xét các chính sách, hành động của cơ quan hành pháp, và bảo đảm quyền lợi của các bang và các quận. Thật vậy, vì Hạ nghị sĩ và Thương nghị sĩ phụ thuộc vào cử tri tại các bang, các khu vực bầu cử để được tái cử họ có xu hướng đáp ứng quyền lợi riêng của từng khu vực bầu cử, từng nhóm người hơn là giải quyết các vấn đề của cả nước. Quốc hội cũng kiểm soát nền tài chính quốc gia và một đội ngũ chuyên gia thường trực giúp Quốc hội xem xét và thay đổi ngân sách hàng năm do Tổng thống đưa ra.

Bầu cử và đảng phái chính trị

Mỗi bang ở Mỹ được tự do quyết định luật bầu cử riêng của bang mình, theo những giới hạn nhất định do hiến pháp, cơ quan lập pháp quốc gia và Tối cao pháp viện quy định. Ðiều này đã khiến cho nhiều bang, đặc biệt là các bang phía Nam đã ngăn cản người da đen và các nhóm thiểu số khác bỏ phiếu bằng các phương tiện như thuế thân và kiểm tra biết đọc biết viết. Sau khi có Luật quyền bầu cử năm 1965 (cho phép các quan chức chính quyền liên bang được đăng ký cử tri tại các bang đã áp dụng việc kiểm tra biết đọc, biết viết) và sự hủy bỏ thuế thân (Tu Chính án), số cử tri da đen chỉ ít hơn 10% theo tỉ lệ so với cử tri da trắng.

Tổng thống được bầu vào ngày thứ ba đầu tiên sau ngày thứ hai đầu tiên của tháng 11 năm nhuận (1) và nhận chức vào trưa ngày 20 tháng giêng. Tổng thống không phải được bầu trực tiếp, mà bầu thông qua cử tri đoàn. Các đại cử tri thực sự chọn Tống thống sẽ cam kết trước với một người và tên của cử tri trên lá phiếu hoàn toàn biến mất và được thay thế toàn bộ bằng tên của chính ứng cử viên. Các ứng cử viên đạt được đa số phiếu bầu trong bang sẽ nhận được tất cả phiếu bầu của cử tri toàn bang đó (bằng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang), không kể đến phần đa số là nhỏ hay lớn.

Các ứng cứ viên Tổng thống của Ðảng nào được Hội nghị Toàn quốc của Ðảng đó lựa chọn vào mùa hè của mỗi năm bầu cử. Các đại biểu tham dự Hội nghị thường liên lạc với một ứng cử viên riêng và ứng cử viên sẽ được chọn qua Hội nghị Ðảng của bang (hệ thống họp kín) hoặc qua cuộc bầu cử chọn ứng cử viên thuộc mỗi bang của Ðảng được tổ chức vào các tháng trước cuộc tuyển cử. Trong các cuộc bầu cử dành riêng, chỉ các Ðảng viên đã đăng ký mới được bỏ phiếu còn trong các cuộc bầu cử công khai thì cử tri nào cũng được tham gia (rõ ràng là chỉ bỏ phiếu trong một lần bầu cử của Ðảng).

Các đảng phái chính trị

Ðảng phái hay “phe phái” chính trị không được đề cập trong Hiến pháp nguyên thủy. Sự bất đồng về vai trò của chính quyền liên bang đã cho ra đời hai Ðảng quốc gia đầu tiên – Ðảng Liên bang và Ðảng Cộng hòa. Từ đó, hai Ðảng chính này đã ngự trị đời sống chính trị. Ðảng Dân chủ đã tồn tại dưới hình thức này hay hình thức khác từ đầu những năm 1800, và bị các Ðảng Liên bang, Quân chủ và Cộng hòa chống đối trong nhiều giai đoạn liên tiếp. Ðảng Cộng hòa được thành lập năm 1854 và nguyên thủy là Ðảng chống chế độ nô lệ.

Giữa Ðảng Cộng hòa và Ðảng dân chủ, có rất ít khác nhau về ý thức hệ, cả hai Ðảng đều bảo vệ chế độ tư bản tự do kinh doanh, một chế độ mà hầu hết người Mỹ chấp nhận và xem như là nền tảng của xã hội Mỹ. Không giống những người Cộng hòa, những người Dân chủ có khuynh hướng ủng hộ sự can thiệp của Chính phủ nhưng cả hai Ðảng đều có cánh tự do và cánh bảo thủ. Trong Quốc hội cánh tự do và cánh bảo thủ của hai Ðảng đứng về một phía để chống lại cánh kia. Một cách rộng rãi, có thể nói người nghèo thì bỏ phiếu cho Ðảng Dân chủ và người giàu bỏ phiếu cho Ðảng Cộng hôa. Chính trị ở Mỹ là chính trị thực dụng và mỗi Ðảng luôn thay đổi cương lĩnh của mình để cố nắm bắt kịp tình hình quốc gia, nắm bắt mối quan tâm chung.

Ngày bầu cử Tổng thống cũng là ngày bầu Thượng nghị sĩ, Hạ nghị sĩ, Thống đốc các bang và hàng loạt các quan chức thứ yếu. Có một thời người dân bầu phiếu trực tiếp bằng cách đánh chéo vào tên của Ðảng trên lá phiếu, có nghĩa là bỏ phiếu chọn các ứng cử viên của Ðảng từ Tổng thống trở xuống, nhưng hình thức này ngày nay rất hiếm. Ðây là lí do của việc có một loạt Tổng thống của Ðảng Cộng hòa và người Dân chủ chiếm đa số trong Quốc hội.

Thẩm phán liên bang

Trong hệ thống liên bang có 90 Tòa án cấp quận do chánh án quận chủ tọa. Tòa này xét xử các vụ án hình sự vi phạm luật liên bang và các vụ án dân sự về các vấn đề liên bang (tranh chấp giữa các bang không đóng thuế liên bang….). người ta có thể kháng án lên Tòa Phúc thẩm nước Mỹ, có ba thẩm phán xét xử các kháng án, nhưng trong những vụ án rất quan trọng thì có chín thẩm phán xét xử.

Trong đại đa số vụ án quyết định của Tòa Phúc thẩm là chung quyết và đặt ra một án lệ cho các trường hợp về sau, mặc dầu án lệ này không phải lúc nào cũng ràng buộc Tối cao Pháp viện

Mặc dầu không nói rõ là được quyền xét xử lại một bản án – quyền quyết định hành động của Tổng thống, của Quốc hội hay của Chính quyền các bang có vi phạm Hiến pháp hay không – Ðây là một vai trò quan trọng và Tối cao Pháp viện thường gồm chín vị (mặc dầu Quốc hội có thể thay đổi con số này), do Tổng thống bổ nhiệm suốt đời sau khi được Thượng viện phê chuẩn.

Chính quyền bang – du học Mỹ

Trong Hiến pháp đề cập rất ít đến Chính quyền bang – Tu Chính án thứ mười (1791), chỉ đơn thuần nói rằng những quyền nào không được dành riêng cho Chính quyền liên bang thì thuộc về Chính quyền bang. Trong khi Hiến pháp của 50 bang rất lớn, chúng đều dựa trên sự phân quyền và một hệ thống kiểm tra và điều chỉnh, cùng nhấn mạnh quan niệm của người Mỹ là chính quyền chỉ nên giữ ở mức tối thiểu. Mỗi bang có Thống đốc, cơ quan lập pháp và Tòa án bang. Thống đốc được bầu qua bầu cử toàn bang. Tất cả các bang trừ bang Nebraska có cơ quan lập pháp lưỡng viện, thường được gọi là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.

Cấu trúc và thủ tục hệ thống, tòa án bang của các bang khác nhau rất lớn. Tuy vậy, nói chung, ở cấp thấp nhất có Tư pháp, các Tòa hòa giải xét xử các vụ vi phạm nhỏ, do thấm phán trị an (qua bầu cử) điều khiển. Lên nữa là Tòa án của Hạt, nơi xét xử phần lớn các vụ án dân sự và hình sự. Kháng án được gởi đến Tòa Phúc thẩm cấp quận, trong khi Tối cao Pháp viện của hệ thống liên bang. Khía cạnh gây tranh cãi nhiều nhất của thẩm phán bang là do bầu cử (kể cả thẩm phán trong Tối cao Pháp viện).

Lịch Sử Hoa Kỳ

Những phát hiện đầu tiên

Hoa Kỳ là một quốc gia mới do người Châu Âu lập nên. Quá trình lịch sử của nó còn rất mới mẻ so với nhiều quốc gia khác. Châu Mỹ coi như mới được thủy thủ người Ý- Ông Christopher Columbus, tìm ra vào năm 1492. Về thời đó, người ta biết rất lờ mờ về hình thể trái đất. Christopher Columbus lý luận rằng ông có thể đi tới Ấn Ðộ bằng cách giương buồm vượt biển đi theo hướng Tây hay hướng Ðông đều được, vì rằng trái đất tròn.Ý kiến của ông được các nhà cầm quyền và Nữ hoàng Tây Ban Nha ủng hộ. Columbus đã khởi hành với 3 chiếc tàu và khoảng 30 thủy thủ, ròng rã 3 tháng trời đầy sóng gió và thất vọng, họ đã vượt qua Ðại Tây Dương và đổ bộ lên hòn đảo Bahama thuộc Bắc Mỹ ngày 12-10-1492. Nhưng Columbus vẫn cho rằng ông đã tới Ấn Ðộ nên gọi những người dân bản xứ ở đó là người Ấn, cái tên mà bang đó vẫn còn mang là Indiana.

Cho mãi đến thế kỷ 16, người Châu Âu mới bắt đầu di cư sang Hoa Kỳ ngày một nhiều. Trước hết là những nhà thám hiểm, những thủy thủ có óc phiêu lưu muốn tìm vàng. Những cuộc thám hiểm đó không ngờ đã đem lại biết bao kết quả vô cùng tốt đẹp như chúng ta thấy ngày nay.

Sau đó ít lâu thì người Tây Ban Nha, Ðức, Hoà Lan, Pháp và nhất là người Anh, kéo tới rất đông. Thành phố đầu tiên mà người Anh dựng lên là thành phố Jamestown (để tôn vinh vua James đệ nhất đã ban cho họ một đặc ân). Ða số những người di dân sang Hoa Kỳ là những người nghèo khổ hoặc là những kẻ muốn thoát khỏi những khắt khe về tôn giáo và muốn được tự do tín ngưỡng. Những người này đa số là những nhà tu dòng Thanh giáo (Puritan) và dòng Quakers. Một lý do chính yếu khác nữa khiến người Anh di cư sang Hoa Kỳ là tại chế độ phong kiến tàn nhẫn của Nữ hoàng đã gây rất nhiều lộn xộn và bất mãn cho người dân.

Suốt trong những năm đầu tiên ở đất nước mới mẻ này, người ta đã không thể có đủ lương thực để sinh sống. Cuộc sống hết sức khó khăn, đau ốm, chết chóc. Thoạt đầu, người ta đinh cư dọc theo ven biển và mở rộng vào nội địa khi dân số đã tăng. Cứ mỗi lần đinh cư trên bờ biển, họ thường khai hoang một khu đất nhỏ trong rừng rậm và thường bắt đầu mở nông trại. Toàn thể lục địa đều được chinh phục theo cung cách này. Cứ mỗi khi nghe tin nơi nào có đất tốt, có vàng, có dầu thì người ta tràn tới và hòa hợp cùng nhau tại địa điểm phồn thịnh đó.

Khi những người nói tiếng Anh mới tới xứ này, họ định cư dọc theo duyên hải phía Ðông. Sau đó, họ thành lập 13 thuộc địa. Người Hòa Lan cũng định cư ở những chỗ ngày nay như Nữu Ước (New York). Người Pháp từ Canada kéo xuống dọc theo miền Ðại hồ tới các đồng bằng miền Trung. Người Tây Ban Nha thì định cư ở Florida năm 1565 và những chỗ ngày nay là Tân Mễ Tây Cơ (New Mexico) từ năm 1598. Sau đó, vào năm 1700, họ bất đầu di chuyển về phía Tây Bắc để vào miền Nam Califonia. Thông qua chiến tranh và những cuộc mua bán những miền đất bao la này đã trở thành Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ ( The United States of America). 

Những cuộc cách mạng và nền độc lập

Chính phủ Anh đã thành lập một bộ thuộc địa gọi là Uỷ ban doanh thương và Ðồn điền (Board of Trade and Plantation) để tổ chức và duy trì trật tự cho dân di cưBan đầu, cuộc giao dịch này không có tính cách chính trị. Người Anh ở nước Anh hay ở Mỹ đều giao dịch với nhau trên căn bản bình đẳng. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ 18, Anh hoàng đã dùng biện pháp và chính sách cứng rắn để kiểm soát gắt gao việc cai trị dân thuộc địa. Quốc hội Anh đã đặt ra những thể lệ thuế quan khắt khe đối với dân di cư. Dần dần, bầu không khí phẫn uất nổi lên mỗi ngày một trầm trọng. Dân di cư lập bản tuyên cáo về những quyền lợi của họ và cung cách mà họ bị ngược đãi. Cuối cùng, cuộc xung đột về quyền lợi đã dẫn tới chiến tranh. Cuộc chiến tranh Cách mạng khởi đầu vào tháng 4 năm 1775 dưới sự lãnh đạo cương quyết của George Washington, kéo dài từ năm 1775 tới năm 1781.

Ngày Ðộc lập: 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội phê chuẩn bản Tuyên ngôn Ðộc lập của một Ủy ban soạn thảo do Thomas Jefferson đứng đầu. Năm 1783, Anh công nhận nền độc lập của các nước thuộc địa. Cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ không những chỉ tạo lập một quốc gia mà còn tạo ra một trong những xứ dân chủ, không có vua chúa đầu tiên ở toàn cầu. Hơn nữa, kết quả đó đã khuyến khích rất nhiều cho cuộc Cách mạng Pháp ra đời sau đó.

Mặc dù nền độc lập đã chấm dứt 7 năm trời gian khổ và hy sinh, nhưng nước Mỹ vẫn chưa chấm dứt được những lủng củng nội bộ. Lúc bấy giờ, tướng Washington đã hồi hưu, nhưng càng ngày ông càng nhận thức rằng cần phải có một chính phủ trung ương mạnh mẽ để chấm dứt cuộc tranh giành nội bộ và nguy cơ nội chiến đang đe dọa sự sinh tồn của nước Cộng hòa sơ sinh. Do vậy, ông cùng với các đại biểu của 13 tiểu bang nhóm họp tại Philadelphia tháng 5-1787, ông soạn thảo hiến pháp Hoa Kỳ để tạo dựng một khối cộng đồng hoàn hảo hơn, xây dựng công lý, đảm bảo an ninh quốc nội, nâng cao đời sống của toàn dân và gìn gĩư những quyền tự do thiêng liêng. Hiến pháp sẽ không thể “được thừa nhận” (adopted) nếu không có sự tranh luận (controversy). Sau này, người ta cảm thấy rằng Hiến pháp đã dành quá nhiều quyền hành cho chính phủ liên bang nên đã thêm vào đó 10 tu chính án (amendments) để hạn chế bớt quyền lực của chính phủ liên bang. Những tu chính án này được coi là bản Tuyên ngôn Dân quyền (Bill of Rights) thiết lập tự do tôn giáo, ngôn luận và vạch ra những quyền lợi căn bản một công dân trong một nước dân chủ. Năm 1788, hiến pháp đã có hiệu lực để thi hành, thế là các bang đồng lòng bầu ông George Washington lên làm vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.

Vào khoảng giữa thế kỷ 19, Hoa Kỳ gồm có 31 bang. Miền Bắc phần lớn chuyên về kỹ nghệ, miền Nam và miền Trung Tây chuyên về canh nông, nhất là nghề trồng bông, một nghề đòi hỏi nhiều nhân công. Ðể giải quyết vấn đề khan hiếm nhân công trong các khu đồn điền bao la, người Châu Âu đã mang rất nhiều dân Châu Phi đến nước Mỹ. Năm 1860, có khoảng chừng 3,5 triệu người da đen sống ở các bang miền Nam làm dân nô lệ. Trái hẳn lại, những người Mỹ ở miền Bắc cho rằng sự ngược đãi với người da đen là vô nhân đạo. Họ cương quyết yêu cầu Quốc hội xóa bỏ chế độ nô lệ. Tuy nhiên những người dân ở miền Nam phản đối kịch liệt chính sách của người miền Bắc vì rằng chế độ nô lệ đã mang lại sự thịnh vượng và sung sướng cho họ. Tình hình ngày càng tồi tệ, và năm 1861 một cuộc nội chiến đã bùng nổ giữa 23 bang miền Bắc và 11 bang miền Nam. Lúc đó, Abraham Lincoln là lãnh tụ của miền Bắc và Jefferson Davis là lãnh tụ miền Nam. Cuộc nội chiến kéo dài 4 năm và được chấm dứt bằng sự đầu hàng của các lực lượng miền Nam dưới quyền chỉ huy của tướng Robert Lee vào tháng 4-1865. Chế độ nô lệ được hủy bỏ từ đó trước pháp luật Hoa Kỳ. Mặc dù dân da đen đã được giải phóng nhưng họ vẫn thường bị kỳ thị và đối xử phân biệt ở các bang miền Nam. Năm ngày sau cuộc đầu hàng của tướng Robert Lee (14-4-1865) Tổng thống Abraham Lincoln đã bị tên John Wildes Booth ám sát trong khi xem hát tại một rạp ởWashington.

Hiệp chủng quốc (The United States) là khối liên hiệp của nhiều bang Hoa Kỳ (50 bang) lập nên do Hiến pháp năm 1789. Thủ đô Hoa Kỳ là Washington D.C (viết tắt District of Columbia quận thủ phủ Columbia) không phải là một bang hay là một phần của bang nào mà là một khu vực đặc biệt dành riêng cho chính phủ quốc gia. Mỗi bang có chính phủ riêng, thủ phủ riêng và trong mỗi bang lại có nhiều cơ quan chính quyền địa phương nhỏ hơn nữa như : quận, hạt, tỉnh; thị trấn (thành phố) và xã.

Mỗi bộ phận chính trị nhỏ này đều được tự trị theo những khu vực đã được phân định rõ rệt. Hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc chỉ định rõ những công việc giao phó cho chính phủ liên bang. Mọi quyền hành khác đều dành cho các bang và dân chúng, chính phủ liên bang không được xen vào công việc thuộc những thẩm quyền riêng này. Theo nguyên tắc hiến pháp của từng bang thì các bộ phận chính trị trong mỗi bang đều có quyền độc lập.

Ngành lập pháp là Quốc hội Hoa Kỳ gồm có hai viện là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.

Thượng nghị viện viện: gồm có 102 nghị sĩ, tức là hai nghị sĩ cho mỗi bang. Các vị này đều do dân bầu lên trong một nhiệm kỳ là 4 năm. Một thượng nghị sĩ phải trên 30 tuổi tính đến ngày tuyển cử và phải là công dân Hoa Kỳ được 9 năm.

Hạ nghị viện : có 435 nghị sĩ, mỗi nhiệm kỳ là 2 năm : số nghị viên tuyển lựa trong mỗi bang được ấn định theo dân số của bang. Một Hạ nghị sĩ (dân biểu) phải ít nhất 25 tuổi khi được tuyển cử và phải là công dân Mỹ được 7 năm.

Hai viện có quyền ngang nhau trong công việc lập pháp. Viện nào cũng có thể đưa ra sáng kiến lập pháp, ngoại trừ luật tăng thuế lợi tức thì phải do Hạ nghi viện đưa ra. Tuy nhiên, chỉ có Thượng nghị viện mới có thể phê chuẩn hay bác bỏ những hiệp ước với các quốc gia khác do Tổng thống đề nghị, hay bác bỏ các cuộc bổ nhiệm của Tổng thống như bổ nhiệm Tối cao pháp viện, các tướng lãnh, các thành viên trong nội các (các Bộ trưởng) các Ðại sứ và các Giám đốc các cơ quan chính quyền.

Trước khi những dự án luật (Proposed Legislation) thành pháp luật, dự án luật đó phải được cả hai nghị viện chấp thuận và được Tổng thống ký. Nếu Tổng thống bác bỏ thì ông có thể dùng quyền phủ quyết, nhưng nếu luật đó lại một lần nữa được cả hai nghị viện thông qua với 2/3 số thăm thì dự luật đó trở thành luật pháp mà không cần chữ ký của Tổng thống.

Tổng thống không có quyền kiểm soát Quốc hội, dẫu rằng đảng của ông chiếm đa số trong cả hai nghị viện. Người có quyền lãnh đạo chính trị lớn nhất trong Hạ nghị viện là Chủ tịch Hạ nghị viện và Lãnh tụ khối đa sốHai người đó có quyền hơn là phe đối lập trong thượng nghị viện.

Chức Tổng thống Mỹ là chức vụ có nhiều quyền lực nhất trên thế giới. Tuy vậy, quyền lực của tổng thống là một sức mạnh của dân tộc chứ không phải là uy quyền của một cá nhân. Những quyền lực của ông phải được Quốc hội chấp thuận mới có thể thi hành được, chứ không phải là những quyền độc đoán. Ngay cả đến quyền phủ quyết của ồng cũng có thể bị bãi bỏ nếu 2/3 quốc hội chống lại. Tuy nhiên, Quốc hội không thể lật đổ Tổng thống, trừ khi có những lỗi rất nghiêm trọng. Tổng thống là người đứng đầu ngành hành pháp. Cả hai vị Tổng thống và phó Tổng thống (luôn luôn là những đảng viên của cùng một chính đảng), được bầu lên trong nhiệm kỳ là 4 năm. Các ông phải thi hành những chính sách do Quốc hội đưa ra, dù rằng chính sách đó trái với ý chí của Tổng thống. Tổng thống phải là một công dân sinh tại bản xứ, ít nhất là 35 tuổi, phải ở đất Mỹ liên tục 14 năm. Nhiệm vụ của ông là duy trì hiến pháp. thi hành luật pháp do Quốc hội ban bố, bổ nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủ, chính thức giao dịch với ngoại quốc và làm Tổng tư lệnh quân đội (mặc dù vậy chỉ có Quốc hội chứ không phải Tổng thống tuyên chiến). Ðể phụ tá Tổng thống, Quốc hội đã đặt ra nhiều Bộ, đứng đầu những Bộ đó thường là các Bộ trưởng. Các Bộ lập thành hội đồng nội các. Các Bộ trưởng này do Tổng thống bổ nhiệm và có thể bị Tổng thống bãi nhiệm bất cứ lúc nào.

Chính phủ liên bang đảm nhiệm những công việc liên quan đến toàn thể quốc gia, như chính sách đối ngoại, quốc phòng, ấn hành tiền tệ, công việc bưu chính, thương mại với ngoại quốc và trong các bang, điều hành quyền công dân và công việc nhập tịch.

Chính quyền liên bang được chia làm 3 ngành :

Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp, mỗi ngành có trách nhiệm quyền hạn riêng và điều hành công bằng đến mức không ngành nào có thể chiếm ảnh hưởng hay vượt quyền chính phủ.

Các chính quyền bang cũng tổ chức cùng khuôn mẫu như chính phủ liên bang : một người hành pháp tức Thống đốc, hai viện của ngành lập pháp và một ngành tư pháp.

Có hai chính đảng trong nền chính trị Hoa Kỳ : Ðảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Xét bề ngoài chỉ thấy khác nhau đôi chút giữa hai đảng. Có hai khuynh hướng tự do và bảo thủ trong mỗi đảng. Phần lớn các thái độ chính trị theo truyền thống thì thấy có khác biệt rõ rệt, đảng Cộng hòa thường bênh vực chủ trương thuế khóa cao đôí với các hàng nhập cảng và không muốn dính líu tới công việc ngoại bang, trong khi Ðảng dân chủ chủ trương ủng hộ chính sách thương mại và mậu dịch tự do.

Quốc hội, các ngành lập pháp của bang, các thống đốc của bang, các cơ quan lập pháp của thành phố và các viên chức đều bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Về bầu cử Tổng thống, các công dân bầu cho các đại cử tri trong cử tri đoàn, rồi cử tri đoàn này nhóm đại hội và bầu Tổng thống. Mỗi bang bầu một số đại cử tri ngang số Thượng và Hạ nghị sĩ của Quốc hội. Nhưng các Thượng hay Hạ nghĩ sĩ nào đang tại chức thì không được bầu làm đại cử tri. Kế đến, các đại cử tri thuộc mỗi chính đảng họp đại hội toàn quốc. Mỗi phe chỉ định ứng cử viên của mình. Cuối cùng, sau khi các ứng cử viên Tổng thống đã đi khắp đất nước trong nhiều tuần lễ để vận động giành số cử tri, cuộc tuyển cử diễn ra vào thứ ba tuần đầu tháng 11. Nhưng chỉ có các đại cử tri bỏ phiếu mà thôi. Người được nhiều phiếu nhất sẽ trở thành Tổng thống.

Mỗi công dân Hoa Kỳ, nếu không mất quyền công dân, đều có thể đi bầu bằng phiếu kín trong các cuộc bầu cử quốc gia, bang hay địa phương. Khi đã kiểm phiếu rồi, ứng cử viên có đa số phiếu thì được tuyên bố là người thắng cử và đồng thời nhận chức. Người ta thường nói rằng Hoa Kỳ là nước đầu tiên áp dụng lối phổ thông đầu phiếu, nước đầu tiên thi hành quyền tự do báo chí và phân tách giáo hội ra khỏi chính phủ.

Nếu bạn vẫn còn lo ngại về buổi phỏng vấn tại sứ quán hay gặp rắc rối trong vấn đề làm thủ tục thì  hãy đến với Thiên Hoa group, chúng tôi sẽ chuẩn bị cho bạn những buổi phỏng vấn mô phỏng hoặc đưa ra lời khuyên cho những câu trả lời của bạn, giúp bạn có sự chuẩn bị  tốt nhất để cuộc trả lời phỏng vấn du học Mỹ thành công và ước mơ du học sẽ nằm trong tầm tay bạn.

“KHÁCH HÀNG LÀ ÂN NHÂN”